giáo dục phần lan

Việt Nam-Phần Lan tăng cường hợp tác lĩnh vực giáo dục Trong thời gian tới, TP Hồ Chí Minh mong muốn cùng Phần Lan đẩy mạnh các hoạt động trao đổi đoàn công tác, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy, cách thức áp dụng các mô hình giáo dục tiên tiến của bạn. Xuân Khu (TTXVN/Vietnam+) 13/08/2019 16:07 GMT+7 GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ PHẦN LAN - TS. NGUYỄN KHÁNH TRUNG Giáo dục là tối quan trọng vì là định chế tạo ra chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia. Nghĩa là, nhìn vào hiện tượng giáo dục của một đất nước, chúng ta sẽ biết được đất nước đó đang và sẽ phát triển đi lên hay ngược lại, bởi lẽ suy cho cùng, vốn con người là nhân tố quyết định tất cả. TỔNG QUÁT. LS550WHE là máy chiếu gần WXGA có công nghệ LampFree đầu tiên của ViewSonic dành cho doanh nghiệp và giáo dục. Được trang bị công nghệ LED thế hệ thứ 3 tiên tiến, LS550WHE cung cấp độ sáng 3,000 ANSI Lumens và loại bỏ việc thay đèn thường xuyên, giảm thủy ngân độc Siêu Thì Vay Tiền Online. Gần đây các chuyên gia giáo dục hàng đầu của thế giới đều ấn tượng mạnh bởi nền giáo dục Phần Lan. Học sinh Phần Lan luôn đứng đầu về khoa học và khả năng đọc viết, và thường dẫn đầu cuộc thi quốc tế PISA Chương trình đánh giá học sinh quốc tế – Programme for International Student Assessment. Điều kỳ lạ là Phần Lan không hề xem trọng các kỳ thi sát hạch, kể cả PISA, và cũng không có một chương trình hay trường lớp nào dạy học sinh thi PISA cả. Thậm chí chính những người Phần Lan cũng ngạc nhiên về việc học sinh của nước họ luôn đứng đầu trong các cuộc thi PISA, vì họ cũng không quan tâm đến xếp hạng hay đặt mục tiêu phải đạt thành tích gì từ cuộc thi này. Năng lực học tập của học sinh Phần Lan đã thu hút các chuyên gia giáo dục từ 65 quốc gia, kể cả nền giáo dục hàng đầu thế giới như Mỹ đến tìm hiểu khám phá nền giáo dục đất nước này, và phát hiện ra nhiều điểm thú vị đáng học hỏi. Năm 2011, các Giáo sư nghiên cứu và giáo dục trường Harvard của Mỹ đã cùng nhà làm phim nổi tiếng Robert Compton đã làm bộ phim The Finland Phenomenon Inside The World’s Most Surprising School System’ nghĩa là Hiện tượng Phần Lan Bên trong hệ thống trường học đáng ngạc nhiên nhất trên thế giới để tìm hiểu về nền giáo dục kinh ngạc của đất nước này. Trở về với thực trạng giáo dục của Việt Nam, một nền giáo dục mà nhiều người thừa nhận là đã tụt hậu hàng thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ so với giáo dục thế giới. Chúng ta hãy thử làm một so sánh giữa giáo dục Phần Lan và Việt Nam, để xem giáo dục Việt Nam cần thay đổi hướng phát triển như thế nào để tốt hơn. GIÁO DỤC PHẦN LAN PL và GIÁO DỤC VIỆT NAM VN + PL Luật pháp Phần Lan quy định không được xếp hạng hoặc cho điểm để đánh giá các học sinh trước lớp 6 -VN Các lớp đều có kỳ thi cho điểm đánh giá + PL Phương châm của giáo dục Phần Lan là muốn nhà trường thành thiên đường của trẻ em Tại -VN Việt Nam, nhà trường là môi trường cạnh tranh và nhồi nhét kiến thức + PL Nền giáo dục công bằng, học sinh thành thị hay nông thôn đều cùng được hưởng giáo dục như nhau -VN Có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn, giữa trường chuyên lớp chọn. + PL Ngành giáo dục không đánh giá xếp hạng các trường. Không có điểm danh, không có trường chuyên lớp chọn. Giáo viên tự hào về ngôi trường mình đang giảng dạy, phụ huynh và học sinh tin tưởng ngôi trường vào giáo viên của mình. -VN Có trường chuyên lớp chọn khiến phụ huynh, học sinh có sự phân biệt và thiếu tin tưởng nếu con em mình không được học tại một trường điểm hoặc lớp điểm. Hệ quả là việc chạy trường dẫn đến tiêu cực trong giáo dục. + PL Giáo dục hoàn toàn miễn phí. -VN Học sinh phải đóng học phí. + PL Giáo viên từ bậc tiểu học tối thiểu phải có bằng thạc sỹ, được hưởng lương cao và được xã hội xem trọng. Tính chọn lọc giáo viên rất cao chưa tới 10% số người đăng ký được chọn -VN Chỉ có giáo viên bậc ĐH mới cần bằng thạc sỹ, thu nhập thấp. + PL Không có khái niệm học thêm . -VN Trước đây việc học thêm dẫn đến tệ nạn học thêm thì điểm cao, không học thêm thì không được điểm cao. Ngày nay đã cấm học thêm, nhưng do thu nhập giáo viên thấp nên vẫn phải dạy chui’. + PL Giáo viên soạn bài giảng phù hợp từng độ tuổi . -VN Bài giảng không phù hợp với từng độ tuổi, có những bài toán không hợp lý, người lớn cũng không giải được. + PL Giáo viên tự chọn đầu SGK, và chủ động soạn bài giảng, được phép áp dụng phương pháp giảng dạy riêng . -VN Không có sự chủ động, giáo án soạn theo SGK. + PL Giáo viên được tuyển chọn khắt khe từ đầu vào, xã hội tôn trọng giáo viên, vì thế ngành giáo dục cũng không cần kiểm tra phân loại, hay giám sát giáo viên. -VN Định kỳ kiểm tra phân loại giáo viên khiến phụ huynh không muốn con em mình học giáo viên yếu, học giáo viên yếu thì phụ huynh và học sinh không có niềm tin. + PL Mỗi giáo viên thường theo một lớp trong thời gian dài để giáo viên và học sinh thực sự gắn bó và hiểu nhau. Thầy cô cũng có thể biết điểm yếu, khó khăn riêng của từng học sinh để bù đắp kiến thức . -VN Không chú trọng vấn đề này, vì thế nên giáo viên không biết hết được điểm mạnh hay yếu của học sinh để phát huy hay bù đắp kiến thức. + PL Học sinh bắt đầu học tiểu học từ 7 tuổi . -VN Lớp 1 bắt đầu từ lúc 6 tuổi. Nhưng để cho con em có thể theo kịp với bạn bè và chương trình, phụ huynh đã phải cho con em mình đi học chữ từ trước khi vào lớp 1. + PL Học sinh trung học mỗi tối mất chưa tới 30 phút làm bài tập ở nhà. -VN Học sinh Việt Nam mất khá nhiều thời gian để làm bài tập và học thuộc lòng, thông thường mất cả buổi tối để làm bài tập ở nhà. + PL Tập trung cho học sinh yếu chứ không phải học sinh giỏi, học sinh giỏi cũng lo cho học sinh yếu, giúp chất lượng chung cả nền giáo dục cao, ươm trồng tinh thần hợp tác giúp đỡ nhau, vì thế mà học sinh thành những công dân có tính cộng đồng, sẵn lòng đỡ người khác, giúp văn hóa đạo đức của cả đất nước nâng cao. -VN Phân biệt học sinh giỏi yếu, học sinh yếu cảm thấy chán học, tự ti, bị nhồi nhét tư tưởng cạnh tranh từ nhỏ nên có khả năng sẽ thành công dân ít có tính cộng đồng. + PL Học sinh Phổ thông không có thi cử, chỉ có 1 kỳ thi duy nhất là thi vào ĐH. Mục đích của giáo dục là để truyền tải kiến thức chứ không phải dạy để thi cử, vì thế học sinh được tự do tìm tòi khám phá môn học mình yêu thích, không bị áp lực thi cử. -VN Chịu áp lực mạnh từ thi cử, học sinh học chủ yếu để thi tốt, điểm cao, chạy theo thành tích, không kích thích để phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, chương trình học thuộc lòng quá nặng khiến các em cũng không có thời gian để đầu tư phát triển khả năng sáng tạo. + PL Không nhất thiết chỉ học trong SGK, kiến thức ở ngay trong cuộc sống, học sinh có nhiều giờ học vui chơi ngoại khóa, lúc này giáo viên và học sinh tha hồ sáng tạo mà không theo giáo trình nào, học sinh thích thú tìm tòi khám phá, thu được nhiều kiến thức, giáo viên cũng nắm được điểm mạnh cần phát huy của học sinh. Giáo viên muốn học sinh tự tìm thông tin hơn là học trong SGK . -VN Kiến thức chỉ đơn điệu ở trong SGK. + PL Không khí học tập thích thú thoải mái không có áp lực, học sinh học vì thích thú nên hoàn toàn không cần điểm danh . -VN Nhiều học sinh không thích đi học nên điểm danh là việc nhà trường cảm thấy cần thiết. Một quốc gia không đặt ra các tiêu chí để đánh giá xếp hạng giáo viên và học sinh, không yêu cầu thầy trò phải đứng đầu, thế mà lại được cộng đồng OECD xếp hạng có nền giáo dục phổ thông tốt nhất. Khi biết tin này, chính những người Phần Lan rất ngạc nhiên. So sánh giữa một nền giáo dục hàng đầu thế giới và một nền giáo dục tụt hậu như Việt Nam có thể thấy khác biệt là quá xa. Nhưng đấy cũng là một cách tốt để các nhà hoạch định chính sách Giáo dục đưa ra một hướng đi đúng đắn cho giáo dục Việt Nam./. NguồnNgọn Hải Đăng/ĐKN Giáo dục là một trong những nền tảng của phúc lợi xã hội Phần Lan cung cấp các cơ hội giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi người. Giáo dục từ tiền tiểu học đến đại học được miễn học phí ở đất nước này. Chương trình giảng dạy cốt lõi cho bậc tiền tiểu học và giáo dục cơ bản được thông qua năm 2016 đề ra học sinh cần tập trung vào việc học tập chứ không phải định hướng. Giáo viên Phần Lan có trình độ học vấn cao và cam kết tận tâm với tiêu chính của chính sách giáo dục Phần Lan là cung cấp cho mọi công dân cơ hội được giáo dục bình đẳng. Kết cấu hệ thống giáo dục đã thể hiện rõ những nguyên tắc bình đẳng này. Hệ thống này có tính thẩm thấu cao, nghĩa là không có ngõ cụt ngăn cản sự phát triển lên các cấp học cao tâm trong giáo dục là học tập hơn là kiểm tra. Không có bài kiểm tra quốc gia cho học sinh ở các khối lớp dưới trung học phổ thông. Thay vào đó, giáo viên có trách nhiệm đánh giá học sinh theo từng môn học tương ứng với các tiêu chí trong chương trình giảng thi quốc gia duy nhất là kỳ thi tuyển sinh được tổ chức vào cuối năm trung học phổ thông. Các trường đại học sẽ nhận sinh viên dựa trên kết quả bài kiểm tra này kết hợp với bài thi đầu thống giáo dục Phần Lan bao gồm+ Giáo dục và chăm sóc trẻ nhỏ được cung cấp cho trẻ trước khi bắt đầu giáo dục bắt buộc+ Giáo dục tiền tiểu học được cung cấp cho trẻ em trong năm trước khi bắt đầu giáo dục bắt buộc+ Giáo dục cơ bản chín năm trường học toàn diện là giáo dục bắt buộc+ Giáo dục trung học phổ thông là giáo dục trung học phổ thông hoặc giáo dục - đào tạo nghề+ Giáo dục đại học được cung cấp bởi các trường đại học và đại học khoa học ứng dụng.+ Hơn nữa, giáo dục người lớn hơn tuổi học cơ bản luôn có sẵn ở tất cả các thống giáo dục Phần LanGiáo dục và chăm sóc trẻ nhỏ trước khi giáo dục bắt buộc bắt đầuGiáo dục nhà trẻ GDNT kết hợp giáo dục, giảng dạy và chăm sóc theo cách có hệ thống và định hướng mục tiêu. Mục tiêu của GDNT là thúc đẩy trẻ em phát triển, sức khỏe và phúc lợi cũng như cải thiện phản xạ trẻ em cho việc học được hoàn quyền địa phương chịu trách nhiệm cung cấp GDNT cho trẻ dưới tuổi đi học và phụ huynh cần trả một khoản học phí nhỏ. Lệ phí được xác định dựa trên thu nhập, quy mô gia đình và thời lượng đứa trẻ ở GDNT. Hướng dẫn chương trình giảng dạy quốc gia về giáo dục và chăm sóc trẻ nhỏ ở Phần Lan được phê duyệt bởi Cơ quan Giáo dục Quốc gia Phần dục tiền tiểu học cho trẻ em trong năm trước khi bắt đầu giáo dục bắt buộcMục tiêu của Giáo dục mầm non GDMN là cải thiện cơ hội học tập và phát triển của trẻ. GDMN đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị chuyển tiếp từ GDMN lên Giáo dục cơ bản. Kể từ năm 2015, việc tham gia vào GDMN là bắt buộc đối với tất cả trẻ em ở Phần Lan và được cung cấp miễn phí. Người có quyền nuôi con phải đảm bảo rằng trẻ tham gia vào GDMN hoặc các hoạt động tương ứng khác đáp ứng được các mục tiêu đặt ra cho trình giảng dạy trọng tâm của GDMN được Cơ quan Giáo dục Quốc gia Phần Lan phê duyệt, hướng dẫn lập kế hoạch nội dung và các nền tảng làm cơ sở để soạn thảo chương trình giảng dạy tại địa dục cơ bản là giáo dục bắt buộc được xem như trường học toàn diệnGiáo dục cơ bản gồm chín năm trường học toàn diện là bắt buộc đối với tất cả trẻ em từ 7 đến 16 tuổi. Giáo dục bắt buộc bắt đầu vào năm trẻ lên 7 và kết thúc khi giáo trình cơ bản hoàn thành hoặc sau 10 năm kể từ khi trẻ bắt đầu chương trình giáo dục bắt buộc. Mọi trẻ em thường trú tại Phần Lan phải tham gia giáo dục cơ bản và được miễn học phí bao gồm cả bữa ăn miễn phí tại dục phổ thông và dạy nghề phổ thông thay thế sau giáo dục cơ bảnSau khi hoàn thành giáo dục cơ bản chín năm bắt buộc, những người trẻ tuổi có thể tiếp tục lựa chọn theo 1 trong 2 hướng Giáo dục trung học phổ thông GD THPT hoặc Giáo dục - đào tạo THPT lukio trong tiếng Phần Lan cung cấp giáo dục phổ thông và học sinh chưa đủ trình độ cho một nghề nghiệp cụ thể nào. Kết thúc chương trình GD THPT, học sinh dự kỳ thi tuyển sinh quốc gia. Những người vượt qua kỳ thi tuyển sinh đủ điều kiện để đăng ký học tiếp tại các trường đại học, đại học khoa học ứng dụng và các cơ sở dạy nghề. GD THPT được thiết kế thường phải mất 3 năm để hoàn người có trình độ trung cấp nghề hoàn thành các kỹ năng nghề cơ bản trong một lĩnh vực cụ thể và năng lực chuyên môn cần thiết trong cuộc sống làm việc thực tế. Phạm vi của trình độ chuyên môn là 120 tín chỉ và phải mất 3 năm học tập toàn thời gian. Sau khi hoàn thành trình độ trung cấp nghề, học sinh có thể nâng lên trình độ THPT nghề, trình độ chuyên môn cao và trình độ nghề chuyên nghiệp. Trình độ chuyên môn cao và nghề chuyên nghiệp khi hoàn thành sẽ được cấp bằng dựa trên năng lực. Các cơ sở dạy nghề hướng dẫn trên cơ sở thực tế và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Đào tạo cụ thể tại nơi làm việc là một phần thiết yếu của quá trình học. Sau khi hoàn thành trình độ nghề, học sinh có thể tiếp tục học lên giáo dục đại thống giáo dục đại học Phần Lan bao gồm các trường đại học và đại học khoa học ứng dụngNhiệm vụ của các trường đại học là tiến hành nghiên cứu khoa học và cung cấp giáo dục dựa trên lĩnh vực khoa học đó. Các trường đại học khoa học ứng dụng UAS cung cấp giáo dục thực tế hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao trường đại học cung cấp giáo dục khoa học và nghệ thuật cao hơn, cấp bằng lần lượt theo trình độ cử nhân và thạc sĩ và tiến sĩ. Các trường đại học khoa học ứng dụng UAS cấp bằng cử nhân và thạc sĩ theo hệ khoa học ứng gian hoàn thành bằng cử nhân tại một trường đại học là 3 năm và đối với bằng thạc sĩ là tối thiểu 2 năm. Việc hoàn thành bằng cấp đại học khoa học ứng dụng UAS thường mất từ 3,5 đến 4,5 dục và đào tạo người lớn trên tinh thần học tập suốt đờiGiáo dục và đào tạo người lớn bao gồm cấp chứng chỉ, cấp bằng, đào tạo chuẩn bị cho bằng cấp chuyên môn, đào tạo học nghề, tiếp tục giáo dục cập nhật và mở rộng các kỹ năng chuyên môn, nghiên cứu các chủ đề liên quan đến kỹ năng công dân, kỹ năng sống và xã hội, nghiên cứu các nghề thủ công và các môn học khác nhau trên cơ sở giải TeirPhó Hiệu trưởng Trường ĐHKhoa học Ứng dụng CentriaHoài Thương dịch

giáo dục phần lan